Thứ Sáu, ngày 18 tháng 4 năm 2014

Thị trường và đạo đức



Một người Brazil kiếm sống nhờ bán chỗ trên cơ thể cho các công ty muốn quảng cáo xăm lên đang tìm khách hàng cho trán.
Người Brazil này đòi phí từ 50 tới 400 reals (24-185 đô la) mỗi tháng cho quảng cáo xăm trên người ông tùy vào vị tri, kích cỡ quảng cáo và khách hàng, ông nói.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2014/04/140417_man_living_by_ad_tatoo.shtml

Thứ Bảy, ngày 18 tháng 1 năm 2014

"Trứng chợ đen"

Trong tuần vừa qua, dưới sức ép của các cơ quan chức năng cộng với sức ép của dư luận, hai doanh nghiệp CP và Emivest đã buộc phải điều chỉnh giảm giá bán trứng gia cầm ba lần về mức cũ trước khi tăng giá.

Những nhà quản lý giá cả luôn muốn dùng “bàn tay hữu hình” của nhà nước thông qua các biện pháp hành chính như đe dọa phạt tiền, rút giấy phép các doanh nghiệp để kiểm soát giá cả với lý do bảo vệ người tiêu dùng, ổn định thị trường, kiềm chế lạm phát. Trong khi đó, các nhà kinh tế lại cho rằng giá cả cần để các lực lượng thị trường tự điều tiết thông qua cung – cầu, nếu nhu cầu trứng của người tiêu dùng nhiều hơn lượng trứng mà nhà sản xuất có thể cung ứng, giá trứng sẽ tăng, ngược lại nếu nhà sản xuất trứng cung ứng vượt quá nhu cầu của người tiêu dùng, giá trứng sẽ giảm

Để xác định giá trứng trong tuần đầu năm 2012 tăng hợp lý hay không hợp lý cần phải xem xét diễn biến giá trứng trong hai năm 2011 và 2012.

Theo phản ánh của báo chí, giá trứng mà các chủ trại chăn nuôi trong hai năm 2011 và 2012 bán ra liên tục ở mức thấp hơn giá thành sản xuất khiến nhiều người chăn nuôi bị thua lỗ. Báo SGTT số ngày 18/1/2013 dẫn lời một chủ trại chăn nuôi cho biết giá trứng trung bình của năm 2011 chỉ có 1.370 đồng/quả, còn giá thành là 1.655 đồng, năm 2012, giá thành tăng 57 đồng lên mức 1.712 đồng nhưng giá bán lại thấp hơn 93 đồng nên tiền lỗ của mỗi quả trứng tăng lên 435 đồng.

Giá trứng giảm, giá bán thấp hơn giá thành thì người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi, đồng thời góp phần kiềm chế lạm phát khi trứng là một trong những mặt hàng thiết yếu, có mặt trong các bữa cơm gia đình. Người dùng trứng hưởng lợi thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc người nuôi trứng bị thiệt.

Rất nhiều người đã ủng hộ việc các cơ quan chức năng kiểm soát giá trứng gia cầm, không cho giá trứng tăng cao. Về mặt logic của việc kiểm soát giá cả, nếu họ đã ủng hộ việc kiểm soát giá trứng tăng cao thì họ cũng phải ủng hộ luôn việc kiểm soát giá trứng xuống thấp. 

Nhưng thực tế cho thấy, khi giá trứng xuống thấp, người chăn nuôi bị lỗ, không thấy một cơ quan chức năng với nhiệm vụ ổn định giá cả lên tiếng bảo vệ người chăn nuôi bằng cách buộc các siêu thị phải tăng giá trứng để người nuôi trứng không bị lỗ.

Thị trường luôn có lý lẽ riêng của nó, khi mà cơ quan kiểm soát giá không thể làm được việc hỗ trợ cho người chăn nuôi thì họ sẽ có cách để tự bảo vệ mình thông qua cơ chế thị trường bằng cách giảm đầu tư do việc thua lỗ kéo dài.

Việc bỏ đàn, treo chuồng là chuyện tất yếu phải diễn ra khi giá cả thấp hơn giá thành, người chăn nuôi bị lỗ trong một thời gian dài. Hệ quả của việc giảm đầu tư sẽ là nguồn cung trong tương lai bị thiếu hụt, khi nguồn cung bị thiếu hụt so với nhu cầu, giá trứng sẽ tăng như chúng ta đã chứng kiến trong thời gian vừa qua. Đó cũng là cách thị trường tự điều tiết giá cả. Khi giá thấp, đầu tư giảm, nguồn cung trong tương lai giảm và giá lại tăng lên; khi giá tăng, đầu tư tăng, nguồn trong trong tương lai tăng, giá cả giảm. Người mua trứng và người bán trứng phải chấp nhận một thực tế là giá trứng biến động theo chu kỳ, có lúc cao và có lúc thấp. Không có gì thấp mãi và cũng có gì cao mãi. 

Nếu người tiêu dùng đã được hưởng lợi nhờ việc giá trứng thấp hơn giá thành trong suốt hai năm 2011 và 2012 thì họ cũng phải chấp nhận chia sẻ với người nuôi trứng trong năm 2013. Nếu họ không chấp nhận chuyện giá trứng tăng cao, gây sức ép lên cơ quan chức năng nhằm kiểm soát giá trứng, chuyện gì sẽ xảy ra?

Trên thực tế thì thị trường phân phối trứng ở Việt Nam có thể tạm chia thành hai hệ thống: hệ thống siêu thị chuyên bán trứng bình ổn và hệ thống bán lẻ ở các chợ. Các cơ quan chức năng chỉ có khả năng kiểm soát giá trứng ở trong các siêu thị, và không đủ khả năng kiểm soát giá trứng ở các chợ. Khi nguồn cung thiếu hụt so với nhu cầu, nhưng giá trứng không thể tăng do bị kiểm soát, các siêu thị đã hạn chế lượng trứng bán ra bằng cách quy định mỗi người tiêu dùng chỉ được mua từ 1-2 vỉ trứng.

Do giá trứng bị kiểm soát ở trong siêu thị thấp hơn giá trứng trên thị trường nên nhiều tiểu thương đã vào siêu thị mua trứng trong siêu thị ra chợ bán. Nếu xem hệ thống siêu thị là thị trường chính thức thì hệ thống chợ là thị trường chợ đen, giá trứng ở thị trường chính thức thấp nhưng nguồn cung bị hạn chế trong khi giá trứng ở thị trường chợ đen cao nhưng dồi dào. Nếu việc kiểm soát giá cả vẫn tiếp tục diễn ra thì việc tồn tại song song hai thị trường chính thức và chợ đen vẫn tiếp diễn cho đến khi giá cả giữa hai thị trường này cân bằng nhờ sự dịch chuyển số lượng trứng từ thị trường chính thức sang thị trường chợ đen. Nếu việc kiểm soát giá trứng vẫn tiếp tục dựa trên ý chí chủ quan của những người kiểm soát giá, một thuật ngữ mới "trứng chợ đen" có thể sẽ xuất hiện tương tự như đôla chợ đen, vé chợ đen mà nền kinh tế đã từng chứng kiến.

Xét về lợi ích tổng thể của nền kinh tế, việc kiểm soát giá cả sẽ làm tiêu dùng mất thời gian chờ đợi để được mua trứng, mặc dù có thể nhiều người sẽ được mua trứng với giá rẻ; người chăn nuôi sẽ không muốn tăng cường đầu tư để tăng số lượng trứng bán ra do giá bán không tăng.

Về dài hạn, người tiêu dùng có thể sẽ chịu thiệt hại khi chấp nhận trả nhiều tiền hơn nhưng vẫn không có trứng để mua nếu tình trạng kiểm soát giá vẫn tiếp diễn trong một thời gian dài.

Thứ Sáu, ngày 17 tháng 1 năm 2014

Egg price

Giá trứng gà đang là một chủ đề nóng được người tiêu dùng quan tâm, xuất hiện trên trang nhất của các tờ báo có ảnh hưởng lớn đến công chúng tại VN kể từ khi CP, một công ty chăn nuôi của Thái Lan, tăng giá trứng trong một thời gian ngắn vừa qua khiến thị trường trứng gia cầm trở nên bất ổn dưới cái nhìn của những nhà quản lý thị trường và báo chí, mặc dù dưới cái nhìn kinh tế học, đó là hiện tượng đã được dự báo trước cách đây vài tháng.

Trong năm 2012, người nuôi gia cầm bị lỗ do giá gia cầm liên tục đứng ở mức thấp hơn giá thành nhiều tháng trời khiến cho việc tái đàn gặp nhiều khó khăn cộng với việc thức ăn chăn nuôi liên tục tăng cao cao do giá các loại nguyên liệu đầu vào của ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi là đậu tương, ngô tăng cao đã đẩy chi phí sản xuất gia cầm tăng là nguyên nhân khiến cho nguồn cung trứng gia cầm sụt giảm đẩy giá trứng tăng cao.

Hiện tượng giá trứng tăng cao không chỉ xảy ra ở VN mà còn xảy ra ở nhiều quốc gia khác trên thế giới. Tờ Telegraph của Anh ngày 13/1 đưa tin: Giá trứng đã tăng vọt 40% trong năm qua.

Biểu đồ giá trứng ở Mỹ dựa trên số liệu của USDA cung cấp cũng cho thấy sau một thời gian giảm giá, giá trứng đã tăng trở lại kể từ giữa năm 2012

Sau đợt giảm giá mạnh vào đầu năm 2012, giá trứng đã tăng trở lại

Trở lại Việt Nam, diễn biến của vụ việc bắt đầu khá đơn giản, CP một công ty chuyên sản xuất các sản phẩm phục vụ cho chăn nuôi, chiếm khoảng 16% thị phần trứng gà ở Tp.HCM (số liệu do CP tính toán, số liệu do Sở Tài chính Tp.HCM công bố là 30%) đã liên tục tăng giá bán trứng cho một số hệ thống siêu thị của Tp.HCM trong một thời gian ngắn với lý do mất cân đối cung – cầu. Theo phản ánh của báo chí, trong một tuần CP đã tăng giá trứng liên tục 3 lần, khiến giá trứng bán lẻ tăng vọt từ 2.000 đồng lên 3.000 đồng/quả, mức tăng 50%.

Điểm đáng chú ý đó là CP không phải là công ty duy nhất tăng giá trứng, Emivest là công ty có thị phần lớn thứ hai cũng tăng giá nhưng CP là công ty chiếm thị phần lớn nhất nên đã bị "bêu tên" trước công luận để làm gương. Việc tăng giá của CP đã vấp phải phản ứng khá dữ dội từ các hệ thống siêu thị, đặc biệt nhất là từ phía chính quyền Tp.HCM với sự hậu thuẫn của dư luận thông qua hai tờ báo có số lượng phát hành lớn nhất cả nước là Tuổi Trẻ và Thanh Niên.

Hệ quả của vụ việc này đó là CP bị hệ thống siêu thị Saigon Co.op “tẩy chay” không mua trứng gia cầm và thương hiệu bị thiệt hại khá nặng. Tuổi Trẻ, một tờ báo có tính dân túy đã nhiệt tình ủng hộ Saigon Co.op thông qua một bài xã luận "đanh thép" và cho đăng tải một loạt ý kiến người tiêu dùng đòi "phản đối" và "đòi trừng phạt" CP. Trong khi hồ hởi bảo vệ quyền lợi của người sử dụng trứng gà, "một nửa ổ bánh mì" mà tác giả bài xã luận trên Tuổi Trẻ không nhắc tới đó là quyền lợi việc hàng vạn người nuôi gà đã bị lỗ trong suốt năm 2012 vừa qua.
Vụ việc cho thấy tư duy kiểm soát giá cả thông qua các biện pháp hành chính của các quan chức nhà nước vẫn còn rất nặng nề, đáng buồn hơn nữa là các tờ báo lớn như Tuổi Trẻ, Thanh niên lại ủng hộ việc kiểm soát giá cả này mà không tìm hiểu rõ chuyện trứng gà tăng giá sau một thời gian dài giảm giá là chuyện rất bình thường và hợp lý trong một nền kinh tế thị trường. Trong buổi làm việc với CP, Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương) và các sở, ban, ngành TP.HCM đưa ra “tối hậu thư” từ nay đến hết ngày 17.1, nếu CP không giảm giá, CP sẽ bị xử lý theo luật Cạnh tranh bởi “tội” lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho khách hàng.

Dưới áp lực của chính quyền và dư luận, CP đã buộc phải thừa nhận tăng giá bất hợp lý và giảm giá trứng xuống còn 21.000 đồng/vỉ. Mặc dù thế, đại diện truyền thông CP cho rằng mức giá này là giá sỉ, còn giá bán lẻ ở thị trường còn tùy thuộc vào các cơ sở, cửa hàng bán lẻ.

Giả sử CP tăng giá trứng một cách bất hợp lý (theo quan điểm của các quan chức phụ trách thị trường của Sở Công thương) thì một hiện tượng tất yếu sẽ diễn ra đó là người tiêu dùng sẽ tự động “tẩy chay” trứng gà CP bằng cách mua trứng tại các siêu thị với giá rẻ hơn. Trên thực tế thì hiện tượng này đã xảy ra khi những nhà bán lẻ trứng đã đổ xô vào siêu thị mua trứng bình ổn với giá 23.500 đồng/vỉ mang ra thị trường bên ngoài bán với giá 32/000 đồng/vỉ để hưởng chênh lệch.

Chính “lòng tham” của các thương nhân sẽ làm cho giá trứng giữa nơi cân bằng nhau. Khi đó, CP không bán được trứng với giá cao sẽ tự động giảm giá trứng xuống nếu không muốn trứng bị ế.

Nếu thực sự nguồn cung trứng dồi dào như các quan chức phụ trách bình ổn giá cả của Tp.HCM công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng thì động tác duy nhất phải làm đó là tăng cường lượng trứng đang dồi dào đó cho các siêu thị, không cần hạn chế số lượng trứng bán ra (do xảy ra hiện tượng thu gom trứng, các siêu thị đã hạn chế mỗi người tiêu dùng chỉ mua được 1-2 vỉ/lần) thì thị trường sẽ tự động điều tiết bằng cách chuyển trứng ở nơi "dư thừa" sang nơi "khan hiếm" bằng tín hiệu giá cả.

Không giống các loại sản phẩm khác có thể dự trữ lâu ngày, trứng gà là một loại hàng hóa khó có thể đầu cơ, tích trữ do phải tiêu thụ ngay trong tuần, việc găm hàng nhằm tăng giá bán là điều khó xảy ra. Việc một công ty có thị phần khoảng 30% như CP (tạm tin vào con số của Sở Tài chính Tp.HCM) có thể chi phối được giá cả của thị trường trứng là vô lý.

Nếu nhìn vào tình hình chăn nuôi trong suốt năm 2012 sẽ thấy giá trứng liên tục đứng ở mức thấp, người chăn nuôi bị lỗ, không có khả năng để tái đầu tư. Việc người nuôi bỏ đàn khiến cho lượng cung sụt giảm trong khi gần đến Tết, nhu cầu tiêu thụ trứng tăng cao khiến cho cung – cầu mất cân bằng đẩy giá trứng tăng như lý giải của CP là điều thường xuyên gặp phải trong nền kinh tế thị trường. Giá trứng tăng cao sẽ là động lực để khuyến khích người dân nuôi gà trở lại để đáp ứng nguồn cung cho thị trường trong bối cảnh năm 2012 bị lỗ liên tục.

Sẽ là bất công với những người nuôi gia cầm, khi với mục tiêu "ổn định giá cả", chính quyền "kiềm hãm" giá trứng ở mức thấp một cách giả tạo với lý do bảo vệ người tiêu dùng khiến cho những người sản xuất trứng gia cầm bị thiệt hại. Việc thua lỗ của người chăn nuôi trước sau gì cũng ảnh hưởng đến lợi ích của những người tiêu dùng, nếu giá trứng vẫn tiếp tục được “bình ổn” ở mức thấp một cách giả tạo bằng các biện pháp hành chính như ở hiện tại, nhiều khả năng nguồn cung sẽ tiếp tục thiếu hụt trong tương lai khi người nuôi gia cầm không muốn tiếp tục nuôi vì không nhìn thấy lợi nhuận thì hiện tượng xếp hàng, cấp quota để được mua trứng sẽ trầm trọng hơn trong thời gian tới. 

Hiện chưa thấy các nhà kinh tế học có tiếng về bảo vệ thị trường không thấy lên tiếng về những sự việc can thiệp vào thị trường một cách thô bạo như thế này.

Update1: Vietnamnet có một bài tổng hợp ý kiến bạn đọc lên án CP rất gay gắt. Độc giả Vietnamnet quên rằng người tiêu dùng có một quyền rất lớn đó là quyền bỏ phiếu bằng tiền (your money, your vote). Nếu bạn cảm thấy giá trứng CP quá cao, bạn có quyền dùng tiền của mình để mua trứng của Ba Huân, trứng của CP không bán được, công ty CP sẽ thua lỗ, đóng cửa, thậm chí phá sản. Chỉ cần dùng money, bạn sẽ làm cho trứng CP tự động giảm giá nếu không muốn rơi vào tình cảnh thua lỗ. Ngoài ra, nếu bạn cảm thấy giá trứng gà rất cao, lợi nhuận của CP khủng, bạn có thể chuyển sang việc nuôi gà đẻ trứng kiếm lời như bạn đã phê phán CP có lợi nhuận "khủng".

Update 2: Các bài báo phản ánh giá trứng tăng trên thế giới

Telegraph: Egg prices up 40 per cent
Dailymail: Shoppers shelling out more for eggs as price rockets 40% in a year
High Egg Prices

Thứ Tư, ngày 01 tháng 1 năm 2014

Bài học về đầu tư

Tôi sẽ ghi lại đây những bài học mà tôi học được trong đầu tư, những trải nghiệm mà tôi đã trải qua trong quá trình đầu tư của mình để sau này có dịp đọc lại. Một lưu ý quan trọng đối với bạn đọc đó là những bài học về đầu tư của tôi không đúng cho tất cả mọi người bởi vì phương pháp đầu tư của tôi là phương pháp đầu tư đối nghịch với đa số các nhà đầu tư khác trên thị trường. Do đó, việc áp dụng một cách máy móc những bài học này có thể gây cho bạn thua lỗ trầm trọng nếu bạn không hiểu rõ những nguyên lý của phương pháp đầu tư này.

Bài học 1: Hãy đầu tư vào những lĩnh vực nào bạn hiểu rõ để chắc chắn rằng bạn sẽ không thua lỗ




Thứ Ba, ngày 31 tháng 12 năm 2013

CSM

Tôi sẽ lần lượt ngồi phân tích lại biến động của giá cổ phiếu trong quá khứ, những cổ phiếu theo chu kỳ mà tôi đã từng tham gia đầu tư hoặc được một số nhà đầu tư theo chu kỳ khác tham gia đầu tư.

Theo quan điểm đầu tư theo chu kỳ, trong dài hạn từ 3 tháng đến 1 năm giá cổ phiếu sẽ phản ánh biến động lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi lợi nhuận tăng, giá cổ phiếu sẽ tăng theo và khi lợi nhuận giảm, giá cổ phiếu cũng sẽ giảm theo.

Đầu tư theo chu kỳ thực chất là tìm kiếm các doanh nghiệp có lợi nhuận biến động theo chu kỳ, phân tích sự biến động lợi nhuận đó để mua cổ phiếu với mức giá thấp khi lợi nhuận của doanh nghiệp ở mức thấp và bán cổ phiếu ở mức giá cao khi lợi nhuận của doanh nghiệp tăng cao.

http://s.cafef.vn/hose/CSM-cong-ty-co-phan-cong-nghiep-cao-su-mien-nam.chn

Lợi nhuận của CSM từ 290 tỷ đồng năm 2009 giảm xuống 140 tỷ đồng năm 2010 và tiếp tục giảm xuống còn 32 tỷ đồng năm 2011. Hệ quả của việc lợi nhuận sụt giảm đó là giá cổ phiếu sụt giảm từ 50.000 đồng năm 2009 xuống còn 7.000 đồng vào tháng 1 năm 2012.


Thứ Sáu, ngày 01 tháng 11 năm 2013

Kế toán hàng tồn kho



Để có doanh thu, các doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp sản xuất phải mua hàng hay sản xuất hàng để bán. Những hoạt động này làm tăng hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán và giảm tiền hoặc tăng khoản phải trả.

Khi hàng được bán, Hàng tồn kho giảm và Giá vốn hàng bán (chi phí) được ghi nhận. Như vậy, số liệu báo cáo về Hàng tồn kho trên bản cân đối kế toán có liên quan đến số liệu về Giá vốn hàng bán trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và về Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

Kế toán Hàng tồn kho và Giá vốn hàng bán gồm cả các nguyên tắc kế toán và nguyên tắc báo cáo. Nguyên tắc kế toán bao gồm việc xác định giá trị của hàng tồn kho được tính toán như thế nào; còn nguyên tắc báo cáo xác định những giá trị của hàng tồn kho được trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bản cân đối kế toán như thế nào.

Báo cáo về hàng tồn kho và giá vốn hàng bán

Hàng tồn kho và Giá vốn hàng bán được báo cáo ở cả hai doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp sản xuất. Nghiệp vụ về hàng tồn kho của doanh nghiệp sản xuất thì phức tạp hơn của doanh nghiệp thương mại vì doanh nghiệp sản xuất phải ghi chép về tình hình sản xuất sản phẩm. Trước hết ta xem xét doanh nghiệp thương mại, sau đó sẽ xem xét doanh nghiệp sản xuất.

Doanh nghiệp thương mại

Kế toán hàng hóa tồn kho khá đơn giản. Khi mua hàng thì hàng tồn kho của một công ty tăng lên. Khi bán hàng thì hàng tồn kho của một công ty giảm đi. Ví dụ, một cửa hàng mua chịu 100.000.000 đồng hàng hóa vào ngày 4 tháng 5 năm 20x6. Ngày 12 tháng 5, trả một nửa số nợ khi mua chịu hàng hóa ở ngày 4 tháng 5. Cửa hàng sẽ ghi chép các nghiệp vụ như sau: (đơn vị tính 1.000 đồng).

Ngày
Tài khoản
Tài sản
=
Nợ phải trả
+
Vốn chủ sở hữu

Tiền
Tài sản khác
Vồn đầu tư của CSH
Lợi nhuận chưa phân phối
4/5
Hàng hóa
Phải trả người bán

100.000


100.000



12/5
Giá vốn hàng bán
Hàng hóa


-40.000




-40.000

Phải trả người bán
Tiền

-50.000


-50.000























Nghiệp vụ ngày 12/5/x6 làm giảm nợ phải trả và có một khoản tiền chi cho nhà cung cấp sẽ được trình bày trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

Ngoài việc ghi chép các nghiệp vụ mua bán hàng hóa ảnh hưởng đến thông tin trên báo cáo tài chính, các công ty còn mở hệ thống ghi chép mô tả chi tiết về từng loại hàng hóa và số lượng hàng mua và bán. Những ghi chép này giúp cho công ty nắm được số lượng hàng còn tồn kho, nhu cầu của từng mặt hàng và khi nào cần thì đặt mua thêm. Những ghi chép này cũng dùng cho mục đích kiểm soát. Định kỳ hoặc khi cần thiết, các công ty phải kiểm kê hàng tồn kho để xác định số hàng thực tế còn ở đơn vị nhằm đảm bảo số liệu ghi chép nhất quán với thực số.

Cũng như chiết khấu thương mại, hàng bán bị trả lại và giảm giá hàng bán ở quá trình bán, khi doanh nghiệp được hưởng chiết khấu thương mại hay được người bán giảm giá cho hàng đã mua trước đây, doanh nghiệp phải ghi giảm các chỉ tiêu có liên quan trên báo cáo tài chính. Ví dụ, nếu cửa hàng được khoản giảm giá 2.000.0000 đồng cho hàng mua chịu trước đây, cửa hàng sẽ ghi giảm giá trị hàng mua và khoản phải trả người bán 2.000.000 đồng.

Lưu ý: Giá trị của hàng tồn kho bao gồm giá mua và các khoản chi phí trong quá trình mua. Hàng đang trên đường vận chuyển từ bên bán sang bên mua cũng bao gồm trong hàng tồn kho từ thời điểm sở hữu về hàng được chuyển giao cho bên mua.

Doanh nghiệp sản xuất

Kế toán các nghiệp vụ về hàng tồn kho ở doanh nghiệp sản xuất phức tạp hơn ở doanh nghiệp thương mại vì các doanh nghiệp thường tự sản xuất sản phẩm để bán hơn là mua chúng từ nhà cung cấp. Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất phân loại hàng tồn kho thành ba thành phần: nguyên liệu tồn kho, sản phẩm đang sản xuất và thành phẩm tồn kho.

Nguyên liệu tồn kho được doanh nghiệp mua về để đưa vào quá trình sản xuất sản phẩm. Nguyên vật liệu được trình bày trên bảng cân đối kế toán theo giá gốc của những nguyên vật liệu đã mua nhưng chưa sử dụng vào sản xuất. Tùy từng doanh nghiệp mà nguyên vật liệu sẽ khác nhau. Ví dụ, vải là nguyên vật liệu ở công ty may Sơn Minh nhưng lại là thành phẩm của một công ty dệt nào đó, còn nguyên vật liệu của công ty dệt lại là các loại sợi.

Sản phẩm dở dang gồm giá trị của nguyên vật liệu, chi phí nhân công, và chi phí sản xuất chung đã dùng cho sản phẩm đang trên dây chuyền sản xuất. Khi nguyên vật liệu được dùng vào sản xuất, giá trị của chúng được chuyển từ Nguyên vật liệu tồn kho sang Sản phẩm dở dang. Chi phí nhân công trực tiếp được cộng vào giá trị của Sản phẩm dở dang. Chi phí sản xuất chung bao gồm các khoản chi phí phục vụ cho quá trình sản xuất như giá trị vật dụng sử dụng, các tiện ích như điện nước, khấu hao tài sản cố định dùng vào sản xuất, bảo trì máy móc thiết bị và các khoản tương tự.

Thành phẩm bao gồm toàn bộ giá trị của sản phẩm đã sản xuất xong và sẵn sàng để bán cho khách hàng. Gồm các giá trị như nguyên vật liệu, nhân công và chi phí sản xuất chung cần thiết để hoàn thành sản phẩm

Giả sử công ty may Sơn Minh bắt đầu may các mã sản phẩm vào đầu tháng 1 năm 20x6. Biểu 7-5 mô tả các hoạt động sản xuất trong tháng 1 và tháng 2.

Biểu 7.5: Tính toán giá trị hàng tồn kho ở doanh nghiệp sản xuất (đơn vị tính 1.000 đồng).

                                                                        Tháng 1                       Tháng 2
Nguyên vật liệu tồn kho
Số dư đầu tháng                                                          -                       30.000
Nguyên vật liệu mua vào trong tháng             650.000                     660.000
Nguyên vật liệu sử dụng vào sản xuất            (620.000)                  (670.000)
Số dư cuối tháng                                             30.000                         20.000

Sản phẩm dở dang
Số dư đầu tháng                                                                                    40.000
Nguyên vật liệu sản dụng vào sản xuất          620.000                       670.000          
Chi phí nhân công                                           580.000                       580.000          
Chi phí sản xuất chung                                   420.000                       420.000
Giá thành sản phẩm hoàn thành                  (1.580.000)                  (1.161.000)
Số dư cuối tháng                                             40.000                         100.000

Thành phẩm tồn kho
Số dư đầu tháng                                                                                    50.000                      
Giá thành sản phẩm hoàn thành                   1.580.000                    1.1610.000   
Giá vốn hàng bán                                       (1.530.000)                   (1.630.000)                     
Số dư cuối tháng                                               50.000                         30.000

Vào đầu tháng 1, công ty không có hàng tồn kho. Trong tháng 1, công ty mua 650 triệu đồng nguyên vật liệu và sử dụng vào sản xuất hết 620 triệu đồng. Cuối tháng 1, công ty báo cáo nguyên vật liệu tồn kho là 30 triệu đồng. Số tồn kho cuối tháng 1 cũng là số tồn kho đầu tháng 2. Trong tháng 2 công ty mua thêm 660.000 triệu đồng nguyên vật liệu và dùng cho sản xuất 670 triệu đồng. Cuối tháng 2, công ty báo cáo số liệu còn tồn kho là 20 triệu đồng.

Sản phẩm dở dang của tháng 1 bao gồm các khoản chi phí nguyên vật liệu, nhân công và chi phí sản xuất chung đã dùng vào việc sản xuất sản phẩm. Giá thành của sản phẩm hoàn thành trong tháng được chuyển sang thành phẩm tồn kho, còn lại sản phẩm vẫn chưa sản xuất xong lúc cuối tháng 1 là 40 triệu. Đây cũng là số dư đầu tháng 2. Trong tháng 2 sẽ cộng thêm các khoản nguyên vật liệu, nhân công, và chi phí sản xuất chung để tiếp tục sản xuất và hoàn thành những sản phẩm dở dang từ tháng 1 chuyển sang. Giá thành sản phẩm hoàn thành được trừ ra, còn lại sản phẩm dở dang lúc cuối tháng 2 là 100 triệu đồng.

Thành phẩm tồn kho tháng 1 là giá thành sản phẩm hoàn thành trong suốt tháng 1 trừ giá vốn hàng đã bán ra trong tháng. Số còn lại cuối tháng là 50 triệu đồng được mang sang số dư đầu tháng 2. Giá thành sản phẩm hoàn thành trong tháng 2 được cộng thêm, còn giá vốn hàng bán trong tháng 2 thì trừ ra. Cuối tháng 2 số thành phẩm còn trong kho là 30 triệu đồng.

Các doanh nghiệp sản xuất không ghi nhận là chi phí trong kỳ cho các khoản nguyên vật liệu, nhân công, và chi phí sản xuất chung dùng vào quá trình sản xuất. Những khoản này vẫn nằm trong giá trị của hàng tồn kho cho đến khi chúng được bán thì mới trở thành chi phí. Khi đó giá thành sản xuất chuyển thành chi phí là Giá vốn hàng bán. Thủ tục kế toán dồn tích này giúp chi phí và doanh thu phù hợp với nhau ở kỳ mà doanh thu được ghi nhận khi sản phẩm được bán cho khách hàng. Giá trị của sản phẩm chưa bán được vào lúc cuối kỳ sẽ trình bày trong chỉ tiêu hàng tồn kho trên bảng cân dối kế toán. Tùy theo quy định của từng thời kỳ mà mỗi loại hàng tồn kho (Nguyên vật liệu, sản phẩm dơ dang, thành phẩm) có thể được trình bày riêng hoặc cộng chung trong chỉ tiêu hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán và sẽ thuyết minh thêm trong bản thuyết minh báo cáo tài chính.


Doanh thu phụ thuộc vào hai nhân tố là số lượng bán và đơn giá bán của hàng.

Doanh thu bán hàng = số lượng bán x đơn giá bán

(Trích từ Kế toán - ngôn ngữ kinh doanh)

Thứ Bảy, ngày 19 tháng 10 năm 2013

Công ty chứng khoán: Đòn đau nhớ đời

về bài viết hôm trước chị nhờ cho Thế giới 2013 phần Việt nam, chị đang cần viết một bài về Công ty chứng khoán: Đòn đau nhớ đời nói về thu lỗ, giải thể của các công ty CK do long tham của họ trong thời gian qua
em có viết được không.
http://www.economist.com/events-conferences/americas/world-2013
http://www.economist.com/multimedia/theworldin2012

Số liệu: Tổng số công ty chứng khoán thành lập
Số công ty chứng khoán giải thể

Nếu có một cỗ máy thời gian quay ngược về những năm 2006-2007, thời kỳ hoàng kim của thị trường chứng khoán Việt Nam, một chuyên gia kinh tế sẽ đưa ra lời tư vấn chứng khoán không phải là ngành hái ra tiền

 bảo rằng  và cũng là thời kỳ các công ty chứng khoán được thành lập ồ ạt.

http://www.tinmoi.vn/giam-so-luong-cong-ty-chung-khoan-viec-lam-cap-thiet-101066126.html
 http://taichinh.vnexpress.net/tin-tuc/chung-khoan/2012/10/so-phan-cong-ty-chung-khoan-mo-mit-22355/

Cuối năm 2006, chỉ có 35 công ty chứng khoán được cấp phép hoạt động, trong số này chỉ có 9 công ty được phép thực hiện tất cả 5 nghiệp vụ chứng khoán: môi giới, lưu ký, tư vấn đầu tư và bảo lãnh phát hành, quỹ lý quỹ và tự doanh. .

2007 là năm thăng hoa của thị trường chứng khoán Việt Nam và cũng là năm các đại gia từ nhiều ngành nghề khác nhau nhảy ra thành lập công ty chứng khoán từ dệt may (ghi chú: Chứng khoán Thành Công), bất động sản (Chứng khoán Vincom), công nghệ (chứng khoán FPT), ngân hàng (chứng khoán SBS của ngân hàng Sacombank, chứng khoán Rồng Việt của ngân hàng Eximbank).

Trong bầu không khí lạc quan với tốc độ tăng trưởng cao trên 8-9%/năm vào thời điểm đó, đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh trở thành một chiến lược không thể thiếu của những tập đoàn, tổng công ty đang ăn nên làm ra và hậu quả của nó mãi đến 5 năm sau mới bộc lộ rõ ràng.

Có nhiều lý do để giải thích việc nhảy sang các ngành nghề khác của các doanh nhân.

Thứ nhất, do giá cổ phiếu tăng cao trong hai năm 2006-2007 liên tiếp nên các công ty thu được một lượng tiền mặt khổng lồ từ việc phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, đối tác chiến lược.

Thứ hai, sức hấp về lợi nhuận

Thứ ba, sự lạc quan về tốc độ phát triển của thị trường tài chính






Thứ Tư, ngày 02 tháng 10 năm 2013

Kinh tế học nông nghiệp

Thị trường nông nghiệp là một lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam và cũng là một lĩnh vực rất rộng lớn mà các nhà kinh tế học có thể xem như một thị trường cạnh tranh hoàn hảo để áp dụng quy luật cung - cầu, phân tích, giải thích và đề xuất các chính sách giải quyết vấn đề biến động giá cả.

Thứ Năm, ngày 26 tháng 9 năm 2013

Tạm trữ lúa gạo

Tạm trữ là một hoạt động cần thiết trong ngành sản xuất, kinh doanh lúa gạo do lúa gạo là một loại sản phẩm nông nghiệp được thu hoạch tập trung vào một thời điểm cố định nhưng lại được tiêu thụ quanh năm.

Tồn trữ là một hoạt động kinh doanh theo đó doanh nghiệp phải sử dụng vốn để mua hàng hóa để dự trữ trong một thời gian ngắn hoặc dài để bán ra. Giá doanh nghiệp mua hàng hóa là giá hiện tại hay còn gọi là giá giao ngay, giá doanh nghiệp bán ra trong tương lai gọi là giá tương lai. Giá tương lai có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá hiện tại tùy thuộc vào tình hình thị trường. Do đó, hoạt động tạm trữ, đặc biệt trong một thời gian dài, là một loại hình kinh doanh có rủi ro về giá.

Ngoài chi phí vốn, doanh nghiệp kinh doanh hoạt động tạm trữ lúa gạo còn phải tốn chi phí lưu kho, chi phí vận chuyển. Khi kho càng lớn thì chi phí lưu kho trên một đơn vị sản phẩm càng nhỏ, do đó, hoạt động tạm trữ mang lại hiệu quả cho các doanh nghiệp xây dựng được một hệ thống kho bãi lớn nhưng không thích hợp với các đơn vị kinh doanh nhỏ.

Hai loại chi phí lớn của hoạt động tạm trữ: chi phí vốn và chi phí lưu kho.

Lợi thế về quy mô: đơn vị kinh doanh nào có quy mô càng lớn thì càng tiết kiệm được chi phí do chi phí tạm trữ trên mỗi đơn vị sản phẩm thấp.

Ngân hàng thường muốn cho các doanh nghiệp lớn vay tiền hơn do chi phí giao dịch cho mỗi đồng vốn thấp do ngân hàng chỉ cần thẩm định khả năng tài chính, ký kết giấy tờ một lần. Nhưng nếu một doanh nghiệp tạm trữ được chia thành 10.000 doanh nghiệp lớn hơn thì các chi phí để ngân hàng có thể cho vay sẽ tăng cao do toàn bộ công việc sẽ tăng lên 10.000 lần.

Ngân hàng phải tốn thời gian, nhân lực để thẩm định và ký kết hợp đồng cho vay tạm trữ đối với từng hộ nông dân đủ điều kiện tạm trữ lúa gạo theo quy định. Chi phí đó ngân hàng sẽ không gánh do ngân hàng là một hoạt động kinh doanh có chức năng tìm kiếm lợi nhuận, chi phí đó sẽ được chuyển sang ngân sách nhà nước và cuối cùng gánh nặng đó sẽ được chuyển sang vai của người dân, trong đó có nông dân trồng lúa gạo.

Nhà nước đứng ra dự trữ lúa gạo

Một giải pháp cho việc ổn định giá lúa gạo đó là nhà nước đứng ra mua gạo để bổ sung kho dự trữ khi đến vụ thu hoạch với một giá định hướng nhằm đảm bảo cho giá lúa không rớt xuống thấp hơn một mức giá định hướng được công bố trước vụ thu hoạch. Khi có nhà nước đứng sau lưng, các doanh nghiệp sẽ mua gạo tạm trữ mà không cần lo lắng đến giá của thị trường xuất khẩu vì họ sẽ tìm được lợi nhuận từ việc bán gạo vào kho dự trữ của nhà nước.

Mục đích của việc dự trữ lúa gạo của nhà nước chỉ nhằm ổn định giá lúa gạo trong vụ thu hoạch, nhằm tránh cho giá lúa gạo rớt xuống thấp khi vào đầu vụ thu hoạch, không nhằm mục đích kinh doanh. Nếu giá gạo thế giới tăng cao so với giá nhà nước mua vào, nhà nước có thể bán lúa gạo trong kho dự trữ cho doanh nghiệp với giá cao để doanh nghiệp xuất khẩu, nhà nước sẽ bổ sung lợi nhuận vào ngân sách. Nếu giá gạo xuất khẩu xuống thấp so với giá mụa vào, nhà nước phải chấp nhận chịu lỗ tạm thời.

Mức giá gạo dự trữ do nhà nước mua vào chỉ nhằm mục đích bình ổn giá, do đó giá mua vào chỉ cần cao hơn giá thành sản xuất của nông dân từ 20-30%, để đảm bảo cho nông dân và doanh nghiệp mua tạm trữ rằng cho dù giá gạo xuất khẩu xuống rất thấp thì họ vẫn có thể bán lúa gạo tạm trữ vào kho của nhà nước.

Rủi ro của việc sản xuất và kinh doanh lúa gạo từ đây đã được chuyển sang vai của nhà nước, do giá gạo luôn được bán với giá cao hơn giá thành sản xuất mà không dựa vào cung - cầu của thị trường. 

Thứ Năm, ngày 05 tháng 9 năm 2013

HAGL


Với những biện pháp khoa học kỹ thuật mới, giống mới được du nhập từ các nước có ngành cao su tiên tiến như Malaysia và Thái Lan, cho nên đến năm 2012 lứa cây cao su đầu tiên bắt đầu cho sản phẩm. Khi hoàn thành chương trình trồng 51.000 ha cao su, hàng năm Hoàng Anh Gia Lai có thể thu hoạch được khoảng 127.500 tấn mủ cao su quy khô để xuất khẩu, mang lại doanh số khoảng 382,5 triệu USD hàng năm (dựa trên mức giá bán dự kiến khoảng 3.000 USD/tấn. Giá cao su xuất khẩu đầu năm 2008 có lúc lên đến 3.500 USD/tấn). Mỗi năm Hoàng Anh Gia Lai có thể thu về lợi nhuận khoảng 299,25 triệu USD, vì giá thành cho 1 tấn mủ quy khô là 700 USD/tấn (giá thành bao gồm chi phí khai thác trực tiếp, khấu hao vốn đầu tư, chi phí bảo vệ, chăm sóc và chế biến).
Ngoài ra, cuối kỳ khai thác mủ cao su (sau 20 năm khai thác) 51.000 ha cao su sẽ cho ra khoảng 3 triệu m3 gỗ phục vụ cho ngành chế biến gỗ với giá trị khoảng 750 triệu USD. Sau khi trừ đi chi phí khai thác, vận chuyển và chế biến khoảng 320 triệu USD, còn thu về khoảng 430 triệu USD (cho sản phẩm gỗ cao su).

Thứ Bảy, ngày 31 tháng 8 năm 2013

Đầu tư theo chu kỳ

1. Đầu tư theo chu kỳ là gì?

Đầu tư theo chu kỳ là phương pháp đầu tư tập trung vào việc nghiên cứu sự biến động lợi nhuận của các doanh nghiệp theo chu kỳ.

Các doanh nghiệp theo chu kỳ là những doanh nghiệp mà lợi nhuận của doanh nghiệp biến động phụ thuộc vào sự biến động của các yếu tố cấu thành nên lợi nhuận của doanh nghiệp ví dụ như giá bán sản phẩm, chi phí nguyên liệu đầu vào, hoặc phụ thuộc vào sự biến động của nền kinh tế vĩ mô.

2. Vì sao lợi nhuận của doanh nghiệp biến động theo chu kỳ?


Lợi nhuận của các doanh nghiệp theo chu kỳ không có sự ổn định mà luôn biến động trong một thời gian kéo dài hàng quý, thậm chí hàng năm do sự biến động của các yếu tố đầu vào, đầu ra của doanh nghiệp hoặc sự biến động của các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế.

Chẳng hạn, lợi nhuận của các doanh nghiệp săm lốp như Casumina (CSM) hay Cao su Đà Nẵng (DRC) phụ thuộc rất lớn vào sự biến động của giá cao su, nguyên liệu đầu vào chiếm tỷ trọng lớn hình thành nên giá thành sản phẩm. Do đó, CSM và DRC là hai cổ phiếu có tính chu kỳ.

Các doanh nghiệp bất động sản có lợi nhuận phụ thuộc rất lớn vào thăng trầm của thị trường bất động sản. Với các doanh nghiệp khai thác dầu khí, giá dầu là yếu tố quyết định sự biến động lợi nhuận của các doanh nghiệp này.

Trên thị trường chứng khoán, có rất nhiều công ty hoạt động kinh doanh mang tính chu kỳ. Nếu định nghĩa một cách rộng hơn thì gần như tất cả hoạt động kinh doanh của các công ty đều phụ thuộc vào sự biến động theo chu kỳ của nền kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng thì lợi nhuận của các công ty tăng trưởng theo, do đó giá cổ phiếu sẽ tăng theo, khi nền kinh tế suy giảm thì lợi nhuận của các công ty sụt giảm và do đó, giá cổ phiếu sẽ sụt giảm theo. 


3. Tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng đạt được theo phương pháp đầu tư theo chu kỳ?

Biến động giá cổ phiếu chu kỳ như DRC, CSM, TCM, PPC cho thấy tỷ suất lợi nhuận khi đầu tư theo phương pháp chu kỳ là rất cao trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Đáy của cổ phiếu DRC đầu năm 2009 là 3.000 đồng và đỉnh thiết lập vào tháng 9/2013 là 30.000 đồng, tăng gấp 10 lần. Đáy của cổ phiếu CSM cuối năm 2012 là 6.000 đồng và đỉnh CSM thiếp lập là 40.000 đồng. Mặc dù rất khó có thể mua được cổ phiếu theo chu kỳ đúng đáy và bán cổ phiếu đúng đỉnh, nhưng vì giá cổ phiếu theo chu kỳ biến động trong một xu hướng được xác định dựa vào biến động lợi nhuận của doanh nghiệp nên nhà đầu tư có thể thu được một tỷ suất lợi nhuận cao, có thể trên 100% hoặc 200% trong một năm. Đổi lại, nhà đầu tư phải xác định được cổ phiếu có tính chu kỳ và phải rất kiên nhẫn chờ đợi giá cổ phiếu theo chu kỳ lập đáy và tạo đỉnh.

Thứ Ba, ngày 09 tháng 7 năm 2013

Platform Wars

Platform Wars là một Game mô phỏng đã được sử dụng bốn năm tại các lớp học quản trị kinh doanh của Giáo sư John Sterman do trường Sloan School of Management thuộc đại học MIT danh tiếng sáng tạo.

Chủ Nhật, ngày 10 tháng 3 năm 2013

Systems theory

Tình cờ được tiếp cận với lý thuyết hệ thống trong khi nghiên cứu về chu kỳ kinh doanh cũng như chu kỳ của giá cả hàng hóa nguyên liệu, tôi như bị lạc vào một thế giới mới, một thế giới phi tuyến tính, một thế giới xem "hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng sự tương tác giữa những yếu tố tạo nên nó".

Những bài viết về lý thuyết hệ thống tìm được trên mạng cần đọc lại:

Vài nét tóm tắt về Điều khiển học


Thứ Tư, ngày 02 tháng 1 năm 2013

Về dự thảo hiến pháp mới


Điều 1 (sửa đổi, bổ sung Điều 1)
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước dân chủ, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.

So với hiến pháp 1992, cụm từ "dân chủ" được bổ sung và được đặt trước cụm từ "độc lập, chủ quyền" cho thấy tầm quan trọng của việc dân chủ hóa đất nước được những nhà soạn thảo bản hiến pháp quan tâm.

Điều 2 (sửa đổi, bổ sung Điều 2)
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Cụm từ "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được thêm vào" là điểm mới so với hiến pháp 1992 thể hiện ý chí xây dựng một nhà nước pháp quyền, là nhà nước mà quyền lực được xây dựng trên nền tảng pháp luật, không ai và không có tổ chức nào được đứng trên pháp luật.

Tuy nhiên, tinh thần tam quyền phân lập của Montesquieu vẫn bị hạn chế khi quy định quyền lực nhà nước là thống nhất mặc dù vẫn có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Điều 3 đã bỏ đi cụm từ mang tính răn đe xuất hiện trong hiến pháp 1992: "nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân". Đây là một tiến bộ đáng ghi nhận của bản hiến pháp này.

Điều 4 mặc dù vẫn giữ nguyên vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng nhưng có một sự thay đổi đáng lưu ý đó là:  Đảng Cộng sản Việt Nam... "theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh (hiến pháp 1992)" được thay bằng "lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng" (dự thảo hiến pháp mới). 

Khoản mới được thêm vào quy định trách nhiệm của Đảng trước nhân dân về các quyết định của Đảng: "2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình". 

Nguyên tắc tập trung dân chủ quy định trong điều 6 (HP1992) được chuyển xuống điều 8 dự thảo hiến pháp mới.

Điểm đáng chú ý nhất trong dự thảo hiến pháp mới đó là có một chương (chương II) quy định về quyền con người, trong đó có nhiều điều khoản mới so với hiến pháp cũ.



  (còn tiếp)  


Thứ Ba, ngày 13 tháng 11 năm 2012

Huy động vàng

Theo thống đốc Nguyễn Văn Bình, NHNN xây dựng đề án huy động vàng nhằm tăng nguồn lực cho nền kinh tế. Số vàng trong dân chúng, theo lời người đứng đầu NHNN hiện còn khoảng 250-300 tấn, tương đương 15 tỷ USD. Ông Bình cho rằng đây là một nguồn lực cần được huy động để phục vụ phát triển kinh tế. Kể từ đầu năm 2012 đến ngay, các ngân hàng đã mua vào 60 tấn vàng, do đó NHNN đã bơm ra thị trường một số tiền Việt Nam đồng khoảng 60.000 tỷ đồng (tương đương 3 tỷ USD).  Ông Bình cho rằng huy động vàng từ dân chúng là "cứu cánh" cho nền kinh tế Việt Nam trong năm 2012.

Hình 1 minh hoạ cơ chế hoạt động của đề án huy động vàng của NHNN, vàng được dân chúng tích lũy từ trước đến nay sẽ được bán cho NHNN thông qua hệ thống ngân hàng thường mại, NHNN mua vàng bằng tiền đồng. Như vậy, bằng động thái mua vàng bằng tiền đồng, lượng vàng dân chúng tích trữ được từ trước đến nay sẽ được chuyển chủ sở hữu từ dân chúng sang NHNN, đổi lại dân chúng bán vàng sẽ nhận được tiền đồng. Kể từ đầu năm đến nay, NHNN đã huy động được 60 tấn vàng, tương đương dân chúng sẽ nhận được 60.000 tỷ đồng (tương đương 3 tỷ USD).

Blogger Lê Hồng Giang nhận định việc NHNN mua vàng từ dân chúng tương đương với việc NHNN bơm tiền ra thị trường. Hình 1 minh họa rất rõ cho nhận định trên, nếu xem dân chúng là bên A nắm giữ tài sản là vàng, NHNN là bên B nắm tài sản là tiền thì A bán vàng cho B để đổi lấy tiền. Mục đích của chính sách huy động vàng là NHNN mong muốn dân chúng dùng tiền bán vàng đem đi đầu tư và tiêu dùng nhằm kích thích nền kinh tế tăng trưởng.

Có hai trường hợp xảy ra (1) nếu nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái, chính sách huy động vàng của NHNN sẽ phát huy tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc khuyến khích đầu tư và tiêu dùng (2) nếu nền kinh tế đang tăng trưởng nóng, vượt quá năng suất giới hạn của nó chính sách huy động vàng sẽ làm gia tăng lạm phát. 

Trong bối cảnh tăng trưởng GDP thấp hơn mức tăng trưởng GDP tiềm năng của VN hiện nay, thực tế đang ủng hộ cho trường hợp chính sách huy động vàng đã góp phần ổn định và thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế.

Giả sử dân chúng sử dụng toàn bộ số tiền 60.000 tỷ đồng gởi tiết kiệm trong hệ thống ngân hàng thương mại thì hệ thống ngân hàng sẽ nhận được số tiền 60.000 tỷ đồng tiền gởi tiết kiệm. Số tiền gởi tiết kiệm đó sẽ hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng (thay vì NHNN trực tiếp bơm tiền qua hệ thống ngân hàng thì bằng cách mua vàng của dân chúng, NHNN đã gián tiếp hỗ trợ thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại).

Đến đây, bạn có thể đặt câu hỏi: Vậy thì dân chúng gởi tiết kiệm bằng vàng hay gởi tiền đồng có khác gì nhau? Nếu bạn gởi tiết kiệm bằng vàng thì bạn sẽ nhận lại vàng, nếu bạn gởi tiết kiệm bằng tiền đồng, bạn sẽ nhận lại tiền đồng. Đó là điểm khác biệt rất tinh tế và quan trọng bởi vì vàng ngân hàng không thể in ra được, nhưng tiền thì ngân hàng (thông qua sự hỗ trợ của NHNN có thể in ra được). 

Bạn thử hình dung NHNN là một ngân hàng, dân chúng là người đang nắm giữ vàng, có 2 lựa chọn (1) bán vàng cho NHNN và  giữ tiền mặt, sau đó đem tiền mặt gởi vào NHNN và (2) gởi vàng vào NHNN.

Ở lựa chọn thứ nhất, rủi ro thuộc về dân chúng bởi vì nếu lạm phát xảy ra tiền đồng sẽ bị mất giá, ngân hàng không gánh chịu rủi ro đó bởi vì ngân hàng có khả năng in tiền để mua vàng. Trong trường hợp bán vàng, cung tiền sẽ tăng lên tương ứng với số vàng được bán ra.

Ở lựa chọn thứ hai, do vàng là một công cụ để phòng chống sự mất giá của tiền đồng, dân chúng sẽ không phải chịu rủi ro khi lạm phát xảy ra, thậm chí còn có lợi. Trong trường hợp gởi vàng vào ngân hàng, cung tiền sẽ không tăng lên nếu ngân hàng vẫn giữ vàng trong kho.

(còn tiếp)

Chủ Nhật, ngày 11 tháng 11 năm 2012

Trade off

Trong tiến trình phát triển của một hệ thống phức, luôn có sự đánh đổi (trade off) giữa ngắn hạn và dài hạn. Một cá nhân có thể vay mượn tiền từ ngân hàng để mua sắm sẽ làm tăng mức độ tiêu dùng trong ngắn hạn, đổi lại mức sống của người đó trong dài hạn bị giảm sút khi phải trả các khoản nợ vay. Sự đánh đổi đó rất khó quan sát được trong ngắn hạn bởi vì sự phá sản tài chính chỉ xảy ra khi một lượng nợ tích lũy đủ lớn và trong một thời gian dài. Đó cũng là bài học khủng hoảng nợ công ở các quốc gia châu Âu và Mỹ, nợ công của các quốc gia trên đã được tích lũy trong một thời gian dài, và chỉ chờ đến thời điểm để bùng phát. Mọi thứ đều có vẻ tốt đẹp trước khi khủng hoảng xảy ra, đó là lý do vì sao khi khủng hoảng xảy ra rất khó để mọi thứ trở lại bình thường, cần một thời gian dài và áp dụng nhiều biện pháp thắt lưng buộc bụng, những biện pháp luôn vấp phải sự phản đối của dân chúng, mới có thể thay đổi được hiện trạng.

Công trình thủy điện Xayaburi mà Lào đã chính thức khởi công trên sông Mekông vào đầu tháng 11 vừa qua bất chấp các cảnh báo về tác hại môi trường là một ví dụ minh họa điển hình cho thấy có trade off giữa phát triển kinh tế trong ngắn hạn và bảo vệ môi trường trong dài hạn. Các nhà bảo vệ môi trường cảnh báo việc xây đập thủy điện Xavaburi sẽ ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên nước, làm giảm lượng thủy sản của Việt Nam, ảnh hưởng nghiêm trọng đến vựa lúa chính của cả nước.
 
Các chính trị gia, nhà kinh tế cùng công chúng, thậm chí đôi khi là các nhà báo với mục tiêu phục vụ cho số đông độc giả thường là nhóm đối tượng có tầm nhìn ngắn hạn bởi vì họ thường là những người phải xử lý các sự vụ hàng ngày, đến dòng chảy của sự kiện mà đôi khi quên mất rằng dòng chảy của sự kiện sẽ có những tác động không như mong đợi. Khi thiếu điện thì giải pháp cần tính tới là xây nhà máy thủy điện, khi thiếu xi măng thì phải lên kế hoạch xây nhà máy xi măng, khi lạm phát thì phải chống lạm phát bằng cách tăng lãi suất... Các bản kế hoạch đó thường không quan tâm đúng mức ảnh hưởng của những thay đổi đến môi trường mà công trình  được xây nên hay một chính sách được ban hành bởi vì những tác động đến môi trường thường là gián tiếp và hậu quả của nó chỉ có thể nhìn thấy trong dài hạn.

Có thể hình dung việc xây dựng một nhà máy thủy điện giống như một cái vòi nước còn môi trường là một bồn chứa nước nằm ở phía trên cái vòi còn phát triển kinh tế và thông qua đó là mức sống của dân chúng là một cái bồn chứa nước nằm ở phía dưới cái vòi. Vòi nước càng chảy mạnh thì kinh tế càng phát triển, đồng thời môi trường càng bị hủy hoại. Nhà hoạch định chính sách (với sự ủng hộ của dân chúng) rất dễ dàng quan sát, đo lường tốc độ chảy của vòi nước trong một quãng thời gian ngắn và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế nhưng rất khó để đo đếm độ sụt giảm trong bồn nước môi trường phía trên vì mất rất nhiều thời gian để nhận ra sự thay đổi đó.

Mục đích của việc xây dựng các đập thủy điện trong ngắn hạn sẽ phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân. Nhưng việc thay đổi đập thủy điện sẽ ảnh hưởng đến môi trường, môi trường sống thay đổi sẽ làm giảm mức sống của người dân, nhưng đó là vấn đề chỉ sẽ xảy ra trong dài hạn.

Những hậu quả mà Việt Nam sẽ gánh chịu trong tương lai khi một loạt đập thủy điện của Lào được xây sẽ ảnh hưởng đến sự vận hành tự nhiên của đồng bằng sông Cửu Long, đến nguồn cá và đặc biệt là nguồn lương thực chủ yếu của Việt Nam trong tương lai có thể dự cảm được, thậm chí có thể tính toán được bằng một mô hình cụ thể. Nhưng đó là những tác động chỉ xảy đến trong tương lai khi những nhà hoạch định chính sách, những người chịu trách nhiệm chính trong việc xây đập đã hết nhiệm kỳ.

Việc tác động đến môi trường của những thủy điện trên thượng nguồn sông Mê kông sau khi con đập xây xong đối với con sông là nguồn sống của toàn bộ dân số Việt Nam sẽ khó quan sát trong ngắn hạn bởi vì luôn cần một thời gian tích lũy cần thiết để những tác động này có thể nhìn thấy được thông qua các biến số khác như số lượng cá, lưu lượng nước chảy về dòng sông Mê kông như các nhà môi trường lo ngại. Nhưng một khi nó đã xảy ra sau khi tích tụ đủ, hậu quả của nó để lại không thể thay đổi được và cũng chẳng còn cách nào để cứu vãn, giống như khi các tay thợ săn săn lùng các đàn tê giác, cái giá phải trả trong dài hạn là sự tuyệt chủng của tê giác, hậu quả đó rất khó có thể đảo ngược.

Thời gian không bao giờ quay trở lại để chúng ta nói với những tay thợ săn rằng: Đừng săn tê giác! Tương tự thế, khi môi trường của đồng bằng sông Cửu Long thay đổi, thời gian sẽ không quay trở lại để chính phủ Việt Nam nói với chính phủ Lào rằng: Đừng xây thủy điện Xayaburi.

Broken planning

 Gãy quy hoạch, công nghiệp xi măng vỡ trận

Khi tay bạn chạm một ấm nước đang sôi, ngay lập tức bạn sẽ rụt tay về như một phản xạ tự nhiên. "Tín hiệu" hay thông tin về độ nóng của xô nước được truyền từ tay đến bộ phận thần kinh trung ương, não bộ truyền tín hiệu rút tay về. Độ trễ (time lag) của việc truyền thông tin trong hệ thống này được tính bằng giây, do đó không để lại những hậu quả ngoài mong đợi.

Tuy nhiên, có những hệ thống độ trễ của thông tin được tính bằng tháng, thậm chí là hàng năm trời giữa các bộ phận với nhau. Chẳng hạn trong một hệ thống sản xuất và tiêu thụ xi măng, những nhà tiêu thụ truyền thông tin về nhu cầu tiêu thụ đến nhà máy sản xuất, khi nhận được thông tin nhà máy sản xuất sẽ phản ứng lại. Khi nhu cầu về xi măng cao hơn mức cung ứng của nhà máy, hiện tượng cầu lớn hơn cung sẽ diễn ra khiến giá cả tăng lên, nhà máy sẽ đạt được mức lợi nhuận cao. Giá cả lúc này đóng vai trò là một tín hiệu để điều tiết thị trường. Giá tăng chứng tỏ cầu vượt cung.

Giá tăng do cầu vượt cung, lợi nhuận của các nhà sản xuất ở mức cao, là những tín hiệu khuyến khích các nhà sản xuất cũ mở rộng quy mô nhà máy nhằm cung cấp một sản lượng lớn hơn, nhà sản xuất mới nhảy vào thị trường do kỳ vọng vào một mức lợi nhuận cao.

Trong trường hợp này, độ trễ của hệ thống xuất hiện do thời gian giữa việc ra quyết định đầu tư (lúc giá cao) với lúc nhà máy đi vào hoạt động sản xuất cho ra sản phẩm có một khoảng cách nhất định. Điều đó có nghĩa là nhà đầu tư, trong nhiều trường hợp, không thể xác định được sản phẩm sau khi sản xuất sẽ được bán ở mức giá nào. Cao su là một ví dụ điển hình, thời gian từ lúc bắt đầu trồng cao su đến lúc thu hoạch mủ cao su là từ 5 đến 7 năm. Giá mủ cao su 7 năm sau sẽ phụ thuộc vào biến động cung và cầu cao su ở thời điểm 7 năm sau. Cung cao su vào thời điểm 7 năm sau sẽ phụ thuộc vào lượng cao su thu hoạch trong 7 năm tới mà lượng cao su thu hoạch trong 7 năm tới sẽ phụ thuộc vào mức độ đầu tư vào ngành cao su ở hiện tại, mức độ đầu tư vào ngành cao su ở thì hiện tại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giá cao su ở thời điểm hiện tại ở mức cao hay thấp, khả năng tài chính của người trồng cao su, sự lạc quan của các nhà đầu tư... Nếu giả sử cầu trong 7 năm tới không đổi thì theo mô hình Cobweb, nguồn cung cao su sẽ tăng lên do lượng cao su trồng trong 7 năm trước và khi đó, giá cao su sẽ giảm mạnh.

(Còn tiếp)  

Commodity Cycles

Mô hình dựa trên sự tương tác giữa ba khu vực thị trường: sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Giá liên kết ba khu vực. Các nhà sản xuất cố gắng điều chỉnh năng suất sản xuất (production capacity) để tối đa hóa lợi nhuận với một giá thị trường nhất định. Nhà phân phối cố gắng điều chỉnh giá thị trường bằng cách duy trì một lượng hàng tồn kho tối ưu. Người tiêu dùng phản ứng với giá thị trường khi họ cố gắng tối đa hóa độ thỏa dụng (utility) của họ.

Biểu đồ trữ lượng và lưu lượng (stock and flow diagram) cho thấy nhiều nét đặc biệt của mô hình này. Có một độ trễ (delay) giữa việc bắt đầu thực hiện một sự thay đổi trong mức sản lượng (production rate) (initiation rate) và sự thay đổi mức sản lượng thực tế. Độ trễ này được điều chỉnh bởi constant PRODUCTION DELAY. Giá có liên quan đến tồn kho của nhà phân phối thông qua hàm tìm kiếm PRICE LOOKUP. Tiêu thụ bình quân đầu người có liên quan đến giá của thông qua một hàm tra cứu COMSUMPTION LOOKUP. Năng suất sản xuất cần thiết (The desired) được dẫn dắt bởi mức giá kỳ vọng, là một hàm có độ trễ là EXPECTED PRICE ADJUSTMENT DELAY. Năng suất sản xuất cần thiết phụ thuộc vào mức giá dự kiến thông qua một hàm tìm kiếm PRODUCTION CAPACITY LOOKUP.

(This model is based on the interactions among three market sectors: production, distribution, and consumption. Price links the three sectors. Producers try to adjust their production capacity to the pro± t maximizing level for a given market price. Distributors try to adjust the market price by maintaining an optimal inventory. Consumers respond to the market price as they attempt to maximize their utility.

The stock and  flow diagram shows a variety of features about this model. There is a delay between starting to make a change in the production rate (initiation rate) and the actual production rate change. This delay is governed by the constant PRODUCTION DELAY. The price is related to the Distributors' Inventory through a lookup function PRICE LOOKUP. The per capita consumption is related to price through a lookup function CONSUMPTION LOOKUP. The desired production capacity is driven by the expected price, which is a delayed (smoothed) function of price with a smoothing constant EXPECTED PRICE ADJUSTMENT DELAY. The desired production capacity depends on the expected price through a lookup function PRODUCTION CAPACITY LOOKUP.

The capacity acquisition rate depends on the desired production capacity with an impact from the constant CAPACITY ACQUISITION DELAY.

To develop your simulation model of commodity production cycles, you have the following information:)

Thứ Sáu, ngày 09 tháng 11 năm 2012

200 years of history commodity cycles

200 years of history says commodity cycle can’t last  Sự thịnh vượng của nước Úc gắn bó chặt chẽ với nền kinh tế Trung Quốc Trung Quốc trở thành quốc gia xuất khẩu lớn nhất của Úc với tỷ lệ xuất khẩu tăng từ 5% năm 2000 lên 22% năm 2009.

Không có nhà xuất khẩu commodity khác hưởng lợi nhiều từ sự bùng nổ của Trung Quốc so với Úc. Thương mại của Úc đã bùng nổ theo nghĩa đen kể từ năm 2003 khi Trung Quốc dẫn dắt việc tăng giá quặng sắt và than đá mà Úc là nước xuất khẩu lớn.

Terms of trade (ToT)) ở mức cao trong 60 năm qua, làm tăng đáng để thu nhập quốc dân, tăng thuế mà chính phủ thu được, tăng giá trị của đồng đô la Úc ngang bằng với đồng đô la Mỹ.
(Term of Trade) là chỉ số đo lường chênh lệch giữa level giá xuất khẩu với level giá nhập khẩu, do lường sự chênh lệch giữa đầu vào và đầu ra của nền kinh tế, nếu mức độ tăng giá đầu vào lớn hơn đầu ra, nền kinh tế sẽ đạt được lợi nhuận cao, đây là một chỉ số quan trọng đo lường lợi nhuận mà một nền kinh tế đạt được. Chỉ số này cũng giống như chỉ số biên lợi nhuận của một doanh nghiệp


(Readers seeking a detailed analysis of the impact of the ToT on Australia’s economy are advised to read Tom Conley’s excellent recent article on this issue).

Cuối cùng, sự gia tăng ToT đã dẫn đến một sự gia tăng đáng kể trong đầu tư khai thác mỏ, khi công ty khai thác mỏ hướng tới việc xem xét mở rộng công suất. Việc đầu tư này, đến lượt nó, đã tăng đáng kể GDP của Úc.
Câu hỏi là, sự bùng nổ của commodity sẽ kéo dài bao lâu hay nói cách khác khi nào chu kỳ tăng giá sẽ kết thúc? Trong khi Ngân hàng trung ương Úc và IMF dự đoán thương mại của Úc sẽ vẫn ở mức cao trong một thời gian dài, các nhà đầu tư đáng chú ý như Jim Chanos, Vitaliy Katenelson, Gary Shilling, và Puru Saxeena đã cảnh báo nền kinh tế Trung Quốc là một bong bóng sắp vỡ, và dự báo giảm mạnh tăng trưởng của Trung Quốc và sự sụp đổ của giá hàng hóa trong tương lai gần.

Biểu đồ theo dõi lợi nhuận 10 năm của các loại commodity trong hơn 200 năm qua cho thấy mỗi khi giá commodity tăng nhanh và cao hơn giá trong suốt một thập kỷ, sự sụt giảm mạnh tiếp nối ngay sau đó.

Nếu sự thu hẹp của nền kinh tế Trung Quốc không làm cho giá commodity sụt giảm thì nguồn cung mới từ các nhà sản xuất cạnh tranh sẽ làm sụt giảm commodity price (mặc dù dần dần).

Trường hợp kịch bản tồi tệ nhất cho Úc nếu sụt giảm nhu cầu từ Trung Quốc cùng lúc với nguồn cung tăng từ việc đầu tư khai thác mỏ lớn hiện đang được tiến hành tại Úc, Braxin và các nước sản xuất commodity khác bắt đầu đến "mùa thu hoạch"

Tác giả đặt câu hỏi: Still think it’s different this time?

Greece crisis

Thời gian gần đây, tôi thường muốn biết các vấn đề đang nổi cộm trong xã hội như khủng hoảng nợ công châu Âu, khủng hoảng Hy Lạp được các nhà nghiên cứu sử dụng system dynamics xem xét như thế nào?

Paper của Domen Zavrl là một trong những nỗ lực tìm hiểu khủng hoảng nợ công châu Âu và sử dụng Hy Lạp như một minh họa.

Paper của tác giả có ý phê phán các mô hình kinh tế học tân cổ điển và trích dẫn nhiều quan điểm của những nhà kinh tế học Keynes, đặc biệt là những nhà kinh tế học theo trường phái post-Keynes. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên bởi vì một quan điểm của Keynes thảo luận trong cuốn Lý thuyết tổng quát đã bị bỏ quên đó là uncertaint (sự không chắc chắn) có thể dẫn tới bong bóng đầu cơ trên thị trường tài sản và giá trị tài sản tăng lên lại tác động trở lại đến hành vi của những người cho vay lẫn người đi vay. Khi giá tài sản tăng lên, thái độ chấp nhận rủi ro của người cho vay và đi vay sẽ thay đổi. Đó là những vòng lặp phản hồi (feedback loops) trong một mô hình system dynamics, điều mà các mô hình kinh tế truyền thống chưa đưa vào trong mô hình. Đó là lý do vì sao những nhà kinh tế học truyền thống tỏ ra bất ngờ khi khủng hoảng xảy ra trong khi đó là điều chắc chắn sẽ xảy ra trong một mô hình system dynamics.

Abstract

The current turmoil in the financial markets forces us to question the validity and relevance of the present economic theories. Complex dynamics characterized by bounded rationality and strong impact of expectations on the markets provides an independent source of fundamental uncertainty and this one can lead to speculative bubbles in assets markets triggering growth of public debt. The neoclassical methodology based on logical empiricism and deductive reasoning has  failed to show what is going  on in the real world. We will employ the institutionalist's view and focus on the behavioral aspects of the system modeling decision making process. We illustrate this approach with a model drawn from the current Greek  sovereign debt crisis and its bailout discussions. The main benefit expected is the increased realism of the model itself. The discrepancies between theoretical predictions and observed behavior have  had a major negative impact on economic models  and system dynamicists can contribute a significant amount of value to institutional economics.